(offline.vn) – Nhà nghiên cứu Trần Quang Đức lý giải nguồn gốc việc đặt đệm ”Thị” giữa họ và tên cho phụ nữ Việt, mẹo đặt tên xấu để được khỏe mạnh, trong sách nghiên cứu.
Tác giả có ý tưởng thực hiện ấn phẩm Họ và tên từ năm 2017, là công trình nghiên cứu thứ ba của anh, sau Ngàn năm áo mũ (2013) và Chuyện trà – Lịch sử một thức uống lâu đời của người Việt (2021). Trong tác phẩm, anh hệ thống quá trình phát triển họ, tên người Việt, gắn liền những biến động chính trị của các triều đại, làn sóng văn hóa cũng như lựa chọn của mỗi cá nhân.
Ở phần đầu – Mộc mạc tới cầu kỳ, nhà nghiên cứu lý giải một số chủ đề như quan niệm đặt tên xấu của người xưa, ý nghĩa của việc đặt tên trong một gia tộc. Theo tác giả, người Việt xưa tin rằng hễ tránh nhắc đến tên bệnh hoặc gọi tên các loài thú dữ thì sẽ được an toàn. Từ nỗi sợ vô hình, họ tưởng tượng trẻ con gầy yếu, quấy khóc hay đau ốm đều do ”ma làm” và nghĩ ra những thuật kiêng kỵ phi logic, trong đó có mẹo đặt tên. Nhiều cái tên có phần hơi thô từng được đặt như Cóc, Chuột, Chấy, Đậu, Mè, Xấu, Bủng hay dựa vào tình trạng sinh nở của hai mẹ con là Nhanh, Muộn, Tõng, Tuột, Thụt. ”Hiện tượng đặt tên như vậy ở Việt Nam là phổ biến, dứt khoát không phải nhất thời”, Trần Quang Đức viết.
Từ thế kỷ thứ sáu, xu hướng đặt tên đơn dịch chuyển dần sang tên kép, gồm hai âm tiết, ghi bằng hai chữ Hán. Điều này thể hiện qua các nhân vật xuất hiện trong giai đoạn đầu khởi nghĩa của Lý Nam Đế, Triệu Việt Vương gồm Lý Bôn, Tinh Thiều, Phạm Tu, Triệu Túc, Lý Phật Tử, Lý Phổ Đỉnh… Cục diện bắt đầu thay đổi từ quy định hộ tịch thời Lê Thánh Tông: người cùng một xã trùng họ nhưng không được trùng tên, nếu có phải đổi sang chữ Hán khác, tên họ chỉ dừng ở ba chữ.
Dịch giả, nhà nghiên cứu Trần Quang Đức sinh năm 1985 ở Hải Phòng, tốt nghiệp Đại học Bắc Kinh, Trung Quốc năm 2008, hiện sống tại TP HCM. Ảnh: Nhã Nam Phương Linh